Có sản phẩm, nhưng vốn vào, ra vẫn là nút thắt
Ngày 7/9, tại Hội nghị trao đổi về chính sách và phát triển các công cụ tài chính, ông Ngô Thế Triệu, CEO Công ty Optima Wealth Partners Việt Nam, đặt câu hỏi từ góc nhìn của một nhà đầu tư nước ngoài: "Vì sao tôi phải chọn đầu tư tài chính vào Việt Nam?".
Từ câu hỏi này, ông Triệu chia vấn đề thành ba nhóm: thị trường có gì để mua và nhà đầu tư có tiếp cận được hay không; dòng tiền đi vào, đi ra như thế nào; ai sẽ quản lý tiền và hoạt động đó được đặt trong khuôn khổ pháp lý nào.

Ông Ngô Thế Triệu cho rằng VIFC-DN cần xây dựng cơ chế thuận lợi để dòng vốn quốc tế có thể đi vào, vận hành và rút ra.
Theo phân tích của ông Triệu, Việt Nam thời gian qua đã có nhiều bước tiến trong phát triển sản phẩm tài chính. Tỷ lệ sở hữu tối đa dành cho nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng ở nhiều lĩnh vực; các sản phẩm như ETF (quỹ hoán đổi danh mục), phái sinh, chứng quyền, quỹ mở, quỹ đóng hay quỹ đầu tư bất động sản từng bước hình thành. Hạ tầng giao dịch và công bố thông tin cũng tiếp tục được cải thiện.
Tuy nhiên, việc có thêm sản phẩm mới chỉ giải quyết một phần bài toán.
Ông Triệu dẫn số liệu cho thấy ngành quản lý quỹ trong nước hiện quản lý khoảng 33 tỷ USD tài sản, phần lớn đến từ nguồn ủy thác của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và nhà đầu tư trong nước.
Trong khi đó, vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam chủ yếu đi qua các quỹ thành lập ở nước ngoài hoặc thông qua tài khoản đầu tư trực tiếp, thay vì được quản lý bằng các cấu trúc quỹ đặt tại Việt Nam.
Một phần dòng vốn đầu tư vào Việt Nam vì vậy được cấu trúc và quản lý thông qua các trung tâm tài chính như Singapore, Cayman hay Luxembourg trước khi quay trở lại thị trường trong nước.
Với nhà đầu tư quốc tế, bài toán không dừng ở việc tìm kiếm cơ hội sinh lời. Khả năng chuyển đổi ngoại tệ, chuyển lợi nhuận về nước, công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, lưu ký toàn cầu, thuế ở cấp quỹ, luật áp dụng hay cơ chế giải quyết tranh chấp đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định bỏ vốn.
Từ đó, ông Triệu đặt vấn đề Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN) không chỉ cần tạo thêm sản phẩm tài chính mà còn phải xây dựng được cơ chế để dòng vốn quốc tế có thể đi vào, vận hành và rút ra thuận lợi.
Bên cạnh đó, GS Nguyễn Xuân Thảo, Giám đốc Trung tâm Luật châu Á, Đại học Washington, chia sẻ, quỹ đầu tư đại chúng và quỹ đầu tư tư nhân có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

GS Nguyễn Xuân Thảo, Giám đốc Trung tâm Luật châu Á, Đại học Washington, phân tích vai trò của các mô hình quỹ đầu tư trong thị trường tài chính.
Quỹ đại chúng chịu yêu cầu quản lý chặt hơn do có sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân, với các quy định về bản cáo bạch, công bố thông tin, giá trị tài sản ròng và lưu ký. Trong khi đó, quỹ tư nhân chủ yếu huy động vốn từ nhà đầu tư chuyên nghiệp và tổ chức, có khả năng chấp nhận tài sản kém thanh khoản và mức độ rủi ro cao hơn.
Theo phân tích của GS Thảo, một hệ thống thị trường hiệu quả cần cả hai mô hình. Vốn tư nhân có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong các giai đoạn tăng trưởng, còn thị trường vốn đại chúng tạo thanh khoản và mở ra lối thoát cho nhà đầu tư.
Không thể cạnh tranh chỉ bằng ưu đãi
So sánh với Singapore, Hong Kong, Luxembourg hay Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai, ông Ngô Thế Triệu lưu ý sức cạnh tranh của một trung tâm tài chính không chỉ nằm ở ưu đãi thuế.
Điều nhà đầu tư cần là một khuôn khổ đủ rõ để có thể biết trước mình được thực hiện hoạt động nào, thời gian cấp phép bao lâu, vốn được đầu tư vào đâu, tranh chấp được giải quyết thế nào và quy trình rút vốn ra sao.
Một trong những phương án được ông Triệu đưa ra là xây dựng cơ chế riêng cho các quỹ dành cho nhà đầu tư chuyên nghiệp. Theo đó, những nhà quản lý đáp ứng đủ điều kiện có thể được áp dụng quy trình phù hợp với tính chất và mức độ rủi ro của sản phẩm, thay vì mọi loại quỹ đều phải đi qua cùng một cơ chế.
Việc cấp phép cũng có thể dựa nhiều hơn vào năng lực quản lý và loại hình hoạt động, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào hình thức pháp nhân hay cơ cấu cổ đông.
Ông Triệu cũng đề cập khả năng VIFC-DN nghiên cứu các cấu trúc quỹ vốn quen thuộc với nhà đầu tư quốc tế như quỹ dạng công ty, nhiều lớp cổ phần, nhiều quỹ thành phần hay cơ chế gọi vốn linh hoạt.
Cùng với việc mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, các yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư vẫn cần được duy trì thông qua những nguyên tắc như tách bạch tài sản, lưu ký độc lập, định giá, quản trị rủi ro và công bố thông tin.
Một hướng khác được đặt ra là chuyển dần từ các hạn mức hành chính cứng sang cơ chế giám sát dựa nhiều hơn trên năng lực của tổ chức quản lý, hệ thống quản trị rủi ro và mức độ chuyên nghiệp của nhà đầu tư.

Phó chủ tịch UBND thành phố Hồ Kỳ Minh trao đổi về yêu cầu tiếp cận thông lệ quốc tế trong quá trình xây dựng VIFC-DN.
Liên quan vấn đề này, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh, kiêm Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-DN nhận định, việc hình thành và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng không chỉ là một định hướng chiến lược, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam.
Trong quá trình đó, việc nâng cao nhận thức của các cơ quan chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về các sản phẩm, công cụ tài chính đổi mới, đồng thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tiếp cận thông lệ quốc tế là hết sức cần thiết.