Thực tế cho thấy, không phải cứ giao chìa khóa cho người khác là mọi rủi ro pháp lý được xóa bỏ, bởi trách nhiệm có thể vẫn quay lại với chính chủ xe nếu việc giao xe không đúng quy định.
Theo ông Nguyễn Văn Hòa, giáo viên đào tạo lái xe tại tỉnh Hưng Yên, không ít người hiện nay vẫn hiểu đơn giản rằng chỉ cần không trực tiếp cầm lái khi đã uống rượu bia thì sẽ "an toàn" về mặt pháp luật.
"Cách hiểu này là chưa đầy đủ. Việc giao xe cho người khác điều khiển không đồng nghĩa với việc chủ xe hoàn toàn vô can về trách nhiệm pháp lý", ông Hòa nhấn mạnh.
Cũng theo ông Hòa, tâm lý chủ quan khi giao xe cho bạn bè, người quen hoặc tài xế lái hộ mà không kiểm tra kỹ điều kiện điều khiển phương tiện rất dễ dẫn đến rủi ro pháp lý. "Khi xảy ra tai nạn hoặc bị cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý, nhiều chủ xe mới "ngã ngửa" vì vẫn có thể bị liên đới trách nhiệm", ông Hòa nói.

Nhiều người lựa chọn dịch vụ lái xe hộ khi sử dụng đồ uống có cồn.
Người lái hộ phải đáp ứng các điều kiện nào?
Theo luật sư Đinh Thị Kim Liên (Công ty Luật TNHH VLS & Partners, Đoàn Luật sư Tp.Hà Nội), pháp luật hiện hành không cấm việc nhờ người khác lái xe hộ. Tuy nhiên, để việc này đúng quy định và không phát sinh rủi ro pháp lý, người lái xe hộ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Cụ thể, người lái xe hộ phải có giấy phép lái xe phù hợp với loại phương tiện điều khiển; giấy phép còn thời hạn sử dụng, không bị tước quyền sử dụng; đủ độ tuổi theo quy định; đủ sức khỏe để lái xe; không sử dụng rượu bia, ma túy hoặc các chất kích thích bị pháp luật cấm. Đồng thời, khi tham gia giao thông phải mang theo đầy đủ giấy tờ của phương tiện như đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với ô tô), bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc.
Luật sư Kim Liên lưu ý, nếu chủ xe giao phương tiện cho người không đủ điều kiện điều khiển – chẳng hạn không có giấy phép lái xe, giấy phép không phù hợp, đang trong tình trạng say rượu bia hoặc không đủ sức khỏe – thì dù không trực tiếp cầm lái, chủ xe vẫn bị xem là vi phạm pháp luật.
Theo Nghị định 168/2024/NĐ-CP, hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện bị xử phạt rất nặng. Cụ thể, chủ xe ô tô là cá nhân có thể bị phạt tiền từ 28-30 triệu đồng; đối với tổ chức, mức phạt lên tới 56-60 triệu đồng. Đây là mức xử phạt nghiêm khắc, đặc biệt trong dịp cao điểm Tết Nguyên đán khi lực lượng CSGT tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn, không có "vùng cấm", không có ngoại lệ.
Không dừng lại ở xử phạt hành chính, trong những trường hợp nghiêm trọng, chủ xe còn có thể đối mặt với trách nhiệm hình sự. Nếu việc giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng như làm chết người, gây thương tích nặng hoặc thiệt hại lớn về tài sản, chủ xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 264 Bộ luật Hình sự, với mức phạt cao nhất lên tới 7 năm tù, kèm theo hình phạt tiền và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự.
Thuê người lái hộ nếu gây tai nạn, ai bồi thường?
Luật sư Đặng Huỳnh Lộc (Đoàn Luật sư Tp.HCM) cho biết, căn cứ Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015: "Người nào gây thiệt hại do lỗi của mình thì phải bồi thường".
Trường hợp này, người được thuê lái xe đi sai làn và gây tai nạn, thì về nguyên tắc người lái xe sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại (bao gồm thiệt hại về tài sản, sức khỏe, hoặc tính mạng).
Nếu người lái xe có bảo hiểm trách nhiệm dân sự (bảo hiểm bắt buộc), công ty bảo hiểm sẽ chi trả phần bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm.
Ôtô theo luật là nguồn nguy hiểm cao độ nên theo Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, khi đã thuê người lái xe thì giữa chủ xe và người được thuê lái xe đã có giao kết hợp đồng về việc quản lý, sử dụng, bảo vệ tài sản.
Căn cứ Điều 584 và Điều 601, người được thuê lái xe phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người thiệt hại, kể cả việc phải sửa xe ô tô.
Trường hợp nào nào chủ xe phải bồi thường, liên đới bồi thường dù thuê người lái
Căn cứ Điều 12 nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 1/1/2023, người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường.
Như thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Thỏa thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước bằng tài sản hợp pháp, sau đó người được giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi thường trong trường hợp chủ sở hữu có điều kiện bồi thường.
Trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không đúng quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.
Cụ thể như chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ôtô nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.
Hải Vân (t/h theo Phụ nữ Việt Nam, Công lý, VnExpress)