
Lính Mỹ ở sân bay Point Salines ngày 27/10/1983. Ảnh: Getty
|
Khi những tuyên bố cứng rắn từ chính quyền ông Trump nhắm vào Venezuela xuất hiện liên tục trên mặt báo, nhiều người tự hỏi: Liệu lịch sử có đang lặp lại. Quân đội Mỹ từng xuất hiện và can thiệp ở các châu lục khác nhau trong những bối cảnh đầy tranh cãi. Một số chiến dịch của Washington tưởng chừng dễ dàng và “đánh nhanh thắng nhanh” nhưng kết quả đôi khi lại khiến người Mỹ “toát mồ hôi hột”. Loạt bài này lần theo dấu vết những cuộc can thiệp ấy, mời độc giả đón đọc. |
Những làn đạn bỏng rát “chào đón” lính Mỹ
Sáng 26/10/1983, trung tá George Crocker - chỉ huy Tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh dù 505 thuộc Sư đoàn Dù 82 của Mỹ - vừa đặt chân xuống sân bay Point Salines (đảo quốc Grenada, vùng Caribe) thì lập tức nghe thấy tiếng súng nổ rát bên sườn đồi.
Ông Crocker nhận ra ngay tình hình không giống bất kỳ dự đoán nào trước đó. Trên các sườn dốc quanh sân bay, lính Mỹ đang lom khom tìm vị trí bắn, trong khi từng chùm đạn nhỏ xé gió bắn ra từ những ụ phòng thủ. Không khí oi nóng miền nhiệt đới còn chưa kịp khiến áo lính Mỹ thấm mồ hôi, những làn đạn bỏng rát đã ùa đến trước.
Theo trang History Reader, các phân tích tình báo ban đầu của Mỹ nhận định các đơn vị của quân đội Grenada (PRA) và số ít công nhân Cuba (tới hỗ trợ Grenada xây dựng sân bay) sẽ chống cự rất hạn chế. Thực tế hoàn toàn ngược lại: Nhiều công nhân Cuba trên đảo được cho là kỹ sư quân sự, với trang bị đầy đủ, chiến đấu quyết liệt quanh sân bay.
Ngay đầu chiến dịch, kế hoạch vốn được dự tính là một cuộc đổ bộ nhanh gọn đã trở thành chuỗi tình huống phát sinh liên tục, buộc lính Mỹ phải vừa chiến đấu vừa xoay xở trong điều kiện thiếu bản đồ chuẩn, liên lạc rời rạc và bãi đáp chưa được bảo đảm.
Tình thế khiến Mỹ mở chiến dịch ở Grenada

Grenada là đảo quốc giáp Venezuela. Ảnh: DLM
Theo trang Britannica, Grenada - đảo quốc giáp Venezuela - giành độc lập từ Anh năm 1974. Sau giai đoạn cầm quyền của ông Eric Gairy, lực lượng New Jewel Movement (NJM) do ông Maurice Bishop lãnh đạo thực hiện đảo chính năm 1979. Ông Bishop lên làm Thủ tướng Grenada.
Chính quyền mới đối mặt với phản ứng từ các nước phương Tây vì nhận viện trợ từ Cuba. Họ thực hiện cải cách xã hội và kinh tế, ký thỏa thuận hỗ trợ lẫn nhau với một số quốc gia, và đẩy nhanh xây dựng sân bay lớn – điều Mỹ lo ngại có thể phục vụ mục đích khác.
Ông Bishop khẳng định sân bay cần thiết cho phát triển du lịch, vì cơ sở hiện tại không đón chuyến bay trực tiếp từ Mỹ hay châu Âu. Khoảng 800 người Cuba đến hỗ trợ an ninh và xây dựng.
Tổng thống Mỹ khi đó là ông Ronald Reagan tìm cách tăng cường quan hệ với Grenada qua dự án Sáng kiến Vùng Caribe 1983, và ông Bishop dường như sẵn sàng cải thiện mối quan hệ với Mỹ. Tháng 6/1983, ông Bishop thăm Washington, gặp quan chức Mỹ, nhưng bị một số thành viên trong NJM phản đối.
Ngày 13/10/1983, Phó Thủ tướng Grenada Bernard Coard lật đổ chính phủ, giam lỏng Thủ tướng Bishop tại nhà ở Saint George’s. Tướng Hudson Austin, chỉ huy lực lượng vũ trang Grenada, tự xưng lãnh đạo hội đồng quân sự cách mạng của chính quyền mới.
Ngày 19/10, đám đông ủng hộ phá vây, giải cứu ông Bishop, dẫn ông đến quảng trường rồi tiến về Pháo đài Rupert (nay là Pháo đài George), trụ sở quân đội.
Lực lượng quân đội đảo chính nổ súng vào đám đông, bắt và hành quyết không xét xử ông Bishop cùng vài bộ trưởng. Theo trang Britannica, toàn quyền Paul Scoon - đại diện cho nữ hoàng Anh ở Grenada - kêu gọi "hành động quân sự từ các nước thân thiện" để khôi phục hòa bình. Đây là cơ sở pháp lý cho cuộc can thiệp của Mỹ sau này. Ông Scoon bị quản thúc ngay lập tức. Ngày 22/10, Tổ chức Các Quốc Gia Đông Caribe (OECS) họp tại Barbados, cam kết loại bỏ chính quyền đảo chính ở Grenada và yêu cầu Mỹ hỗ trợ.
Cùng lúc, khoảng 600 sinh viên Mỹ đang theo học tại Đại học Y khoa St. George’s còn mắc kẹt trên đảo. Đây là yếu tố thúc đẩy quá trình ra quyết định về chiến dịch Urgent Fury, được phát động rạng sáng 25/10/1983.
Loạt kế hoạch bị “chệch hướng”

Các binh sĩ thuộc lữ đoàn dù 82 của Mỹ dùng báng súng đập cửa xe trong chiến dịch Urgent Fury. Ảnh: Alamy
Chiến dịch Urgent Fury được tổ chức với sự tham gia của nhiều lực lượng thuộc quân đội Mỹ và các nước OECS: đặc nhiệm SEAL, lữ đoàn Dù 82, các đơn vị biệt kích, cùng lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ và binh sĩ từ các nước OECS.
Theo trang Britannica, rạng sáng 25/10, khoảng 200 biệt kích quân đội Mỹ nhảy dù từ độ cao dưới 150 mét để tránh pháo phòng không tại sân bay Point Salines. Họ chiếm sân bay, đưa thêm 500 biệt kích rồi 5.000 lính từ Sư đoàn Dù 82 bay thẳng từ căn cứ Mỹ tới tiếp viện.
Đồng thời, đặc nhiệm SEAL giải cứu ông Scoon (toàn quyền Anh ở Grenada) khỏi bị quản thúc, chuẩn bị bãi đáp cho 2.000 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bằng trực thăng và tàu đổ bộ. Lực lượng liên hợp nhanh chóng chiếm sân bay Point Salines, trạm điện và cơ sở phát sóng ở gần đó. Họ cũng bảo vệ Trường Y khoa Đại học St. George’s, nơi có hơn 600 sinh viên Mỹ bị mắc kẹt.
Theo trang War History, kế hoạch hành động của đội quân liên hợp được lập vội, phối hợp giữa các đơn vị chưa chặt chẽ, thiết bị gặp trục trặc và gặp phải kháng cự dữ dội từ lính Grenada cùng những người hỗ trợ xây dựng là những khó khăn khiến các kế hoạch bị “chệch hướng”.
Giờ hành động ban đầu là 2 giờ sáng, nhưng trì hoãn đến 5 giờ. Một đội biệt kích SEAL chết đuối sau khi nhảy dù xuống biển gần sân bay Point Salines. Một đội khác bị cuốn trôi do thuyền hỏng máy.
Biệt kích Mỹ phải nhảy dù vào sân bay vào ban ngày nên mất yếu tố bất ngờ, và mất hơn 1,5 giờ thay vì vài phút do thiết bị định vị hỏng. Họ gặp kháng cự từ quân đội Grenada, không liên lạc được với trực thăng Cobra của thủy quân lục chiến Mỹ, và dùng bản đồ khác nhau gây khó khăn phối hợp.
Theo trang Marine Corps Association, đơn vị thủy quân lục chiến viễn chinh 22 (gồm tiểu đoàn 8, phi đội trực thăng 261 và nhóm hỗ trợ 22) được lệnh đổi hướng đến Caribe khi đang trên đường đến Lebanon. Họ đổ bộ đồng thời bằng trực thăng và phương tiện đổ bộ bờ biển tại sân bay Pearls và thị trấn Grenville phía bắc Grenada.
Do sóng lớn, phần đổ bộ bị hoãn, chuyển sang dùng trực thăng. Sáng 25/10, đại đội E đổ bộ, chiếm sân bay Pearls lúc 7h30 sáng sau giao tranh ngắn với lính Grenada. Họ thu hai khẩu pháo phòng không 12.7 mm và kho vũ khí. Đại đội F chiếm thị trấn Grenville mà không gặp kháng cự.
Cuộc giải cứu khẩn cấp

Lính Mỹ đột kích vào một ngôi nhà ở Grenada vào tháng 10/1983. Ảnh: Getty
Một trong những khoảnh khắc nghẹt thở nhất của toàn chiến dịch là nỗ lực giải cứu các sinh viên Mỹ bị kẹt giữa vòng vây ngay sát các trận địa chiến đấu của quân Grenada.
Ban đầu, lực lượng Mỹ tin rằng phần lớn sinh viên đều ở khuôn viên True Blue, ngay cạnh sân bay Point Salines. Nhưng theo trang History Reader, khi các đơn vị kiểm soát xong khu vực này, họ “sững sờ” khi biết còn 224 sinh viên đang bị mắc kẹt ở Grand Anse, nơi có lính Grenada đồn trú. Chỉ một sơ suất nhỏ, hoặc một đợt phản công bất ngờ, cả trăm người có thể bị cuốn thẳng vào giao tranh.
Không còn thời gian để tính toán. Tình huống bất ngờ đòi hỏi cần một kế hoạch tức tốc, chính xác đến từng giây để giải cứu số sinh viên này.
Mỹ điều pháo, trực thăng vũ trang và tàu chiến yểm trợ trước khi trực thăng CH-46 của thủy quân lục chiến đưa lính dù đổ bộ thẳng vào bãi biển hẹp, nơi có cây cối mọc sát mép nước.
Theo mô tả của trang History Reader, trực thăng vừa chạm đất, lính dù đã lập tức bật ra, chạy xuyên qua các dãy nhà đang bị tấn công. Tiếng súng từ phía đối phương vẫn rền rĩ, nhưng từng tốp lính Mỹ vẫn tiếp cận mục tiêu nhanh nhất có thể.
Các sinh viên, nhiều người đã chặn cửa bằng nệm suốt hai ngày đêm, được tập hợp khẩn cấp chạy về bãi biển, nơi các phương tiện đổ bộ đang gầm rú đợi sẵn. Chỉ trong chưa đầy nửa giờ, toàn bộ 224 người được kéo khỏi Grand Anse an toàn. Đó là một trong những đợt hành động mau lẹ và chuẩn xác nhất của chiến dịch Urgent Fury.
Ngay sau thắng lợi chớp nhoáng ấy, tiểu đoàn của ông Crocker được lệnh tiến xuống Lance aux Epines – điểm cuối cùng còn thông báo có sinh viên bị kẹt. Họ vẫn giữ đội hình chiến đấu, sẵn sàng cho một kịch bản tương tự Grand Anse. Nhưng lần này, không còn tiếng súng nào vang lên. Khu vực gần như bỏ trống, lính Grenada đã rút lui từ trước.
Theo trang History Reader, những sinh viên ẩn nấp nhiều ngày liền bước ra trong tình trạng kiệt sức vì chờ đợi và lo sợ. Khi trực thăng đến, nhiều người bật khóc. Sau 3 ngày hỗn loạn, đó là khoảnh khắc đánh dấu việc toàn bộ sinh viên Mỹ trên đảo đều được giải cứu an toàn.
Sai lầm dẫn đến bi kịch

Trực thăng Mỹ tham gia chiến dịch Urgent Fury ở Grenada vào ngày 25/10/1983. Ảnh: US Defense Department
Dù đạt được các mục tiêu chính nhanh chóng, chiến dịch không tránh khỏi sai sót.
Theo trang War History, cuộc đổ quân lên doanh trại Calivigny - mục tiêu được chỉ định từ Washington - trở thành thảm kịch: Trực thăng của hai nhóm đáp chồng lên nhau, khiến 4 lính Mỹ thiệt mạng dù khu doanh trại thực tế đã bỏ trống.
Trong khi đó tại St. George’s, lực lượng SEAL bị bao vây trong khi đang bảo vệ ông Scoon (toàn quyền Anh). Sau đó, thủy quân lục chiến Mỹ phải mở một cuộc giải cứu quy mô lớn mới đẩy lùi vòng vây thành công.
Những giờ phút căng thẳng cũng đến từ sai số trong chỉ thị hỏa lực. Trang History Reader cho biết, một đợt bắn nhầm từ máy bay Mỹ đã gây thương vong cho lính dù 82 tại khu vực Frequente.
Dù vậy, sự phản kháng của lính Grenada suy yếu nhanh. Nhiều binh sĩ bỏ lại trang bị, rút vào vùng đồi núi. Các đơn vị Mỹ tiếp tục truy quét và sau đó chuyển sang giai đoạn ổn định an ninh.
Theo số liệu từ Britannica, sau chiến dịch Urgent Fury, phía Mỹ có 19 binh sĩ thiệt mạng, hơn 100 người khác bị thương. Trong khi đó, phía Grenada có khoảng hơn 200 người thiệt mạng, 60 người khác bị thương. Thương vong với dân thường Grenada là 45 người thiệt mạng và hơn 300 người khác bị thương.
Toàn bộ hơn 700 công dân Mỹ được sơ tán an toàn.
Chỉ trong hơn một tuần, Grenada được đặt dưới sự kiểm soát của lực lượng do Mỹ dẫn dắt. Một hội đồng lâm thời được thành lập và bầu cử được tổ chức năm 1984.
-----------------------
Khi Mỹ ngày nay vẫn liên tục đối mặt với những câu hỏi về can thiệp quân sự ở nước ngoài, lịch sử từng ghi nhận một chiến dịch mà Washington tin rằng có thể kết thúc nhanh gọn, chính xác và ít tổn thất. Nhưng chỉ trong vài giờ, chiến dịch này đã biến thành một trong những thất bại cay đắng nhất của quân đội Mỹ thời hậu chiến tranh Lạnh. Mời đọc giả cùng đón đọc về chiến dịch này ở bài tiếp theo đăng ngày 22/12.
Nguyễn Thái - (t/h)