Từ kiện dân sự sang án hình sự
Ngày 29/6, TAND Tp.Đà Nẵng mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị Nhạn (SN 1984), trú tại Đà Nẵng, về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Theo cáo trạng, bà Trần Thị H. và Nhạn quen biết nhau từ năm 2018 trong quá trình kinh doanh bất động sản. Từ tháng 4/2019 đến cuối tháng 7/2020, bà H. nhiều lần cho Nhạn vay tiền, bằng hình thức chuyển khoản và giao tiền mặt.

Bị cáo Lê Thị Nhạn tại phiên tòa sơ thẩm
Ngày 28/7/2020, hai bên đối chiếu công nợ tại nhà Nhạn trên đường Võ Văn Đặng, phường Ngũ Hành Sơn, Tp.Đà Nẵng. Sau khi rà soát, hai bên lập 5 giấy mượn tiền, thể hiện số tiền gốc còn lại gần 41 tỷ đồng, có chữ ký của bên cho mượn, bên mượn và người chứng kiến.
Cáo trạng xác định, từ ngày 17/4/2019 đến ngày 28/7/2020, bà H. đã cho Nhạn vay tổng cộng hơn 101,2 tỷ đồng, gồm hơn 53,3 tỷ đồng tiền mặt và hơn 47,9 tỷ đồng chuyển khoản. Đến thời điểm đối chiếu công nợ, Nhạn đã trả hơn 73,8 tỷ đồng, trong đó tiền gốc hơn 60,4 tỷ đồng, tiền lãi hơn 13,4 tỷ đồng.
Như vậy, dù tổng dòng tiền vay mượn được xác định hơn 101 tỷ đồng, số tiền còn lại mà cơ quan tố tụng cáo buộc Nhạn chiếm đoạt là 40,845 tỷ đồng.
Do Nhạn không trả nợ đúng hạn, tháng 10/2020, bà H. khởi kiện ra TAND quận Ngũ Hành Sơn cũ, yêu cầu trả tiền theo các giấy mượn. Vụ việc ban đầu được thụ lý, giải quyết theo thủ tục dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Nhạn gửi đơn tố cáo ngược lại bà H., cho rằng mình bị ép viết 5 giấy mượn tiền và bị cho vay lãi nặng. Cơ quan điều tra sau đó thu thập tài liệu, giám định tin nhắn, file ghi âm, video liên quan đến việc vay mượn giữa hai bên.
Cơ quan tố tụng cho rằng Nhạn còn nợ bà H. 40,845 tỷ đồng nhưng không trả. Bị cáo bị cáo buộc xóa dữ liệu tin nhắn, đưa ra thông tin gian dối rằng đã trả hết tiền, đồng thời soạn và ký đơn có nội dung sai sự thật để kéo dài việc giải quyết, nhằm chiếm đoạt số tiền trên.
Từ vụ kiện dân sự đòi nợ, vụ việc chuyển sang tố tụng hình sự. Viện KSND thành phố Đà Nẵng truy tố Nhạn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Về dân sự, bà H. yêu cầu bị cáo trả lại toàn bộ số tiền bị cho là chiếm đoạt.
Tại tòa, Nhạn thừa nhận giữa mình và bà H. có việc vay mượn tiền. Hai bên nhiều lần chuyển khoản, giao nhận tiền mặt hoặc nộp tiền vào tài khoản của nhau.
Tuy nhiên, bị cáo cho rằng hai bên chưa từng ngồi lại để xác định chính xác số tiền vay mượn còn lại. Theo Nhạn, số tiền nêu trong hồ sơ vụ án là chưa đúng. Bị cáo trình bày mình và người nhà sẵn sàng trả nợ nếu có giấy tờ, căn cứ pháp luật rõ ràng.
Ba vấn đề tòa yêu cầu làm rõ
Sau phần xét hỏi, HĐXX cho rằng hồ sơ vụ án còn nhiều khoảng trống, chưa đủ căn cứ để tiếp tục xét xử. Tòa quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung ba nhóm vấn đề chính.
Nội dung đầu tiên là thửa đất số 288. Theo hồ sơ, đây là tài sản Nhạn ký hợp đồng tặng cho bà H. trong bối cảnh bảo đảm khoản vay 1 tỷ đồng. Lô đất này đã được sang tên cho bà H. Tuy nhiên, đến nay hồ sơ chưa có kết quả định giá tài sản, khiến tòa chưa đủ căn cứ xem xét, giải quyết phần dân sự liên quan.

HĐXX cho rằng nhiều vấn đề liên quan tài sản, giao dịch chuyển nhượng và thời điểm phát sinh thủ đoạn chiếm đoạt chưa được làm rõ.
Vấn đề thứ hai là nhà đất trên đường Võ Văn Đặng. Hồ sơ thể hiện tài sản này đã được Nhạn tặng cho con trai. Sau khi sang tên, con trai Nhạn làm thủ tục thế chấp ngân hàng nhưng không thành công, rồi chuyển nhượng lại cho một người khác.
Tại tòa, người nhận chuyển nhượng xác nhận đã giao dịch nhưng chưa sang tên. HĐXX cho rằng người này có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng cơ quan điều tra chưa lấy lời khai, chưa làm rõ ý kiến. Trong khi đó, tài sản đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án nhưng lại phát sinh giao dịch chuyển nhượng, nên cần làm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của các bên.
Nội dung thứ ba tòa yêu cầu làm rõ là thời điểm bị cho là phát sinh thủ đoạn chiếm đoạt. Cáo trạng xác định Nhạn vay tiền, ký 5 giấy mượn rồi dùng thủ đoạn để không trả nợ, hoặc có điều kiện nhưng cố tình không trả.

Các luật sư tham gia bào chữa trong vụ án.
Tuy nhiên, hội đồng xét xử cho rằng kết luận điều tra và cáo trạng chưa nêu chính xác thời điểm Nhạn đưa ra thủ đoạn nhằm không trả nợ, cũng như thời điểm bị cáo có điều kiện nhưng cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ để làm căn cứ xác định rõ tội danh cũng như giải quyết các trách nhiệm dân sự.
Theo HĐXX, các vấn đề trên không thể làm rõ ngay tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.