Việt Nam có hơn 10 triệu người mắc bệnh thận mạn tính

Thứ 5, 15/01/2026 11:47 GMT+7

Theo thống kê, tại Việt Nam, ước tính có hơn 10 triệu người mắc bệnh thận mạn tính (chiếm khoảng 10,1% dân số hoặc 12.8% dân số trưởng thành), và tử vong do bệnh thận mạn đang đứng thứ 8 trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong...

Việt Nam có hơn 10 triệu người mắc bệnh thận mạn - Ảnh 1.

TS. Lê Thái Hà - Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh phát biểu tại Hội thảo

Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) vừa phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Kinh tế Y tế (HERAC) tổ chức Hội thảo "Tăng cường phòng chống và quản lý bệnh thận tại Việt Nam".

Hội thảo có sự tham dự của TS. Lê Thái Hà - Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh , TS. Nguyễn Khánh Phương - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, PGS.TS. Đặng Văn Chính - Viện trưởng Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện, Trung tâm thuộc Bộ Y tế lãnh đạo các hội chuyên ngành, bệnh viện tuyến trung ương và địa phương, cùng các chuyên gia Tiết niệu – Thận học, y tế công cộng và tổ chức quốc tế. Sự kiện tập trung thảo luận về sự cần thiết và các giải pháp dựa trên bằng chứng nhằm dự phòng, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận mạn (CKD) một cách liên tục, tích hợp và hiệu quả.

Bệnh thận mạn gây gánh nặng kinh tế rất lớn tại Việt Nam

Theo thống kê, tại Việt Nam, ước tính có hơn 10 triệu người mắc bệnh thận mạn tính (chiếm khoảng 10,1% dân số hoặc 12.8% dân số trưởng thành), và tử vong do bệnh thận mạn tính đang đứng thứ 8 trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong...

Bệnh thận mạn gây gánh nặng kinh tế rất lớn tại Việt Nam, đặc biệt ở giai đoạn cuối cần lọc máu chu kỳ, với chi phí điều trị trung bình 9,6–22,5 triệu đồng/tháng, tương đương 6–7 lần lương tối thiểu, và phần chi phí phải tự chi trả có thể chiếm tới 80% thu nhập hộ gia đình cận nghèo. Chi phí điều trị trực tiếp cho người bệnh chạy thận nhân tạo ước khoảng 130 triệu đồng/năm, trong đó chi phí chạy thận chiếm gần 60% tổng chi phí, cho thấy gánh nặng lớn đồng thời lên người bệnh và quỹ bảo hiểm y tế.

GS.TS. Võ Tam, Phó Chủ tịch Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam cho biết, bệnh thận mạn là bệnh lý phổ biến ở cả thế giới, trong đó châu Á và Việt Nam cũng không là ngoại lệ, với tỷ suất mắc mới, tử vong cao và ngày càng trẻ hóa.

Việt Nam có hơn 10 triệu người mắc bệnh thận mạn - Ảnh 2.

PGS.TS.BS Hà Phan Hải An - Phó Chủ tịch Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam đánh giá tác động môi trường và kinh tế xã hội từ gánh nặng chăm sóc bệnh thận mạn tại Việt Nam

Ở giai đoạn cuối, gánh nặng điều trị rất lớn. Năm 2023, ước tính có khoảng 46.000 người bệnh cần lọc máu trong bối cảnh năng lực hệ thống còn hạn chế (khoảng 7.000 máy lọc). Tỷ lệ tử vong sau 5 năm ở nhóm chạy thận khoảng 50%.

GS.TS Võ Tam cho hay, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh thận mạn tính, trong đó có một số yếu tố rất quen thuộc trong đời sống hiện nay đó là tiểu đường. Đây là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến suy thận. Khi lượng đường trong máu không được kiểm soát, nó sẽ làm tổn thương các mạch máu nhỏ trong thận, khiến thận không thể lọc chất thải hiệu quả.

Ngoài ra, tăng huyết áp (áp lực máu cao không chỉ ảnh hưởng đến tim mà còn khiến thận bị tổn thương. Khi huyết áp không được kiểm soát, mạch máu trong thận bị hư hại, khiến thận không thể thực hiện chức năng lọc thải);

Lối sống thiếu lành mạnh, chế độ ăn uống thiếu khoa học, ăn nhiều muối, ít vận động và thừa cân là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Hơn nữa, thói quen uống ít nước cũng là nguyên nhân góp phần vào sự suy giảm chức năng thận.

Bệnh thận mạn khởi nguồn từ tổn thương tại mạch thận, cầu thận, ống – mô kẽ và đường tiết niệu. Các yếu tố nguy cơ phổ biến gồm đái tháo đường, tăng huyết áp, tuổi cao, bệnh tim mạch, tiền sử tổn thương thận cấp, tiền sử gia đình mắc bệnh thận mạn, hút thuốc, béo phì, sử dụng kéo dài thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và các thuốc độc thận...

Ở bệnh nhân ung thư, tổn thương thận cấp và bệnh thận mạn thường gặp với cơ chế đa yếu tố (thâm nhiễm, hội chứng tiêu khối u, tắc nghẽn, nhiễm trùng, độc tính từ hóa trị/xạ trị và thuốc điều trị đích như platinum, anti VEGF…), đòi hỏi phối hợp đa chuyên khoa và sự tham gia sớm của bác sĩ thận.

Khoảng trống trong tầm soát và quản lý: Ưu tiên nâng cao năng lực tuyến cơ sở

Khảo sát thực trạng chẩn đoán, theo dõi và tầm soát CKD (Hội nghị Tiết niệu – Thận học toàn quốc, 8/2025) cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ cao được làm đủ xét nghiệm chẩn đoán còn thấp; hơn một phần ba cơ sở chỉ thực hiện đầy đủ cho dưới 25% bệnh nhân. Tần suất xét nghiệm chủ yếu 1 lần/năm; một bộ phận thực hiện không định kỳ, dẫn tới bỏ sót chẩn đoán.

Việt Nam có hơn 10 triệu người mắc bệnh thận mạn - Ảnh 3.

Quang cảnh hội thảo.

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị CKD (Bộ Y tế, 2024) nhấn mạnh phát hiện sớm tại tuyến cơ sở và sử dụng sớm các nhóm thuốc có chứng cứ bảo vệ thận để làm chậm tiến triển, giảm biến cố tim mạch – thận.

Hội thảo cụ thể hóa khuyến nghị triển khai theo 4 nhóm giải pháp:

- Chuẩn hóa sàng lọc chủ động: dùng bộ câu hỏi SCORED CKD, que thử nhanh protein niệu; tăng chỉ định xét nghiệm eGFR và UACR định kỳ cho nhóm nguy cơ; phát hiện sớm, chuyển tuyến kịp thời.

- Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tăng cường truyền thông về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm của bệnh; khuyến khích người dân kiểm tra sức khỏe định kỳ và sử dụng thuốc hợp lý; tránh tự ý dùng dài ngày các thuốc như NSAIDs hoặc các thuốc/thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc… Đồng thời, thúc đẩy lối sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng cân đối, duy trì vận động thường xuyên và bỏ thuốc lá.

- Mô hình quản lý lấy người bệnh làm trung tâm: bảo đảm tiếp cận chẩn đoán cơ bản, thuốc thiết yếu và theo dõi liên tục; tăng cường phối hợp giữa y tế cơ sở, giữa các chuyên khoa thận học, nội tiết, tim mạch để quản lý đa bệnh lý tim – thận – chuyển hóa.

- Cải thiện chất lượng sống giai đoạn cuối: tối ưu điều trị thay thế thận; mở rộng lựa chọn tại nhà khi phù hợp; giảm chi phí ngoài y tế (di chuyển, chăm sóc); đồng thời giảm phát thải trong chuỗi chăm sóc theo định hướng của IMPACT-CKD.

Bên cạnh các khuyến nghị chính sách và kỹ thuật, hội thảo ghi nhận các mô hình thực tiễn đang tạo tác động rõ rệt tại cộng đồng. Chương trình CAREME – Yêu lấy mình - tên viết tắt của 3 nhóm bệnh Cardio (tim mạch), Renal (thận) và Metabolic (chuyển hóa) - là sáng kiến hợp tác giữa Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh Bộ Y tế và Công ty AstraZeneca Việt Nam với sự đồng hành triển khai của Hội Tim mạch học Việt Nam, Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam và Hội Đái tháo đường Việt Nam.

Trong khuôn khổ CAREME, Chương trình khám sàng lọc các bệnh lý tim mạch - thận - chuyển hóa là một hoạt động hợp tác chiến lược giữa Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam và AstraZeneca dưới sự bảo trợ của Bộ Y tế, được triển khai từ năm 2022, tập trung sàng lọc và góp phần quản lý sớm các bệnh tim mạch, thận, chuyển hóa. Sau 3 năm, CAREME đã sàng lọc hơn 200.000 người dân, phát hiện gần 10.000 ca bệnh thận mạn giai đoạn sớm, mở rộng tầm soát tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, kết hợp xét nghiệm nhanh, siêu âm, điện tim tại chỗ và tích hợp dữ liệu vào hồ sơ sức khỏe điện tử. Với ý nghĩa và các tác động tích cực mà chương trình đã đem tới, CAREME đã được lãnh đạo Bộ Y tế đánh giá cao, ủng hộ nhân rộng trong Chiến lược quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2026–2035.

Thu Trang

Cảm ơn bạn đã quan tâm đến nội dung trên. Hãy tặng sao để tiếp thêm động lực cho tác giả có những bài viết hay hơn nữa.
Đã tặng: 0 star
Tặng sao cho tác giả
Hữu ích
5 star
Hấp dẫn
10 star
Đặc sắc
15 star
Tuyệt vời
20 star

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.