Xin được kết hôn trong tù nếu có người yêu thương
Chiều 8/11, phiên tòa xét xử 188 bị cáo trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản do Phó Đức Nam (Mr Pips) cầm đầu kết thúc phần tranh luận. Trước khi HĐXX vào nghị án, các bị cáo được nói lời sau cùng.
Gửi lời xin lỗi tới các bị hại, Mr Pips bày tỏ mong muốn sớm được khắc phục hậu quả, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét mức án 30 năm tù thay vì tù chung thân như đề nghị của VKS.
Bị cáo cho biết bản thân mắc bệnh và mong muốn được thường xuyên thăm khám trong thời gian chấp hành án. Đáng chú ý, trước khi kết thúc lời nói sau cùng, Mr Pips bộc bạch rằng nếu phải chấp hành bản án dài, không biết có ai còn yêu thương mình hay không. Nếu có, bị cáo xin được kết hôn trong tù.

Phó Đức Nam tại phiên tòa (Ảnh: Xuân Trung).
Trước đó, VKSND Tp.Hà Nội đề nghị tuyên phạt Phó Đức Nam tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 10-11 năm tù về tội Rửa tiền. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành án tù chung thân.
Cũng trong lời nói sau cùng, Lê Khắc Ngọ (Mr Hunter) gửi lời xin lỗi tới các nhà đầu tư bị chiếm đoạt tài sản, xin được giảm nhẹ hình phạt và có cơ hội trở về với xã hội. VKS đề nghị bị cáo mức án tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 9-10 năm tù về tội Rửa tiền.
Đối với bố mẹ Mr Pips là Phó Đức Thắng và Lê Thị Liễu, cũng mong HĐXX xem xét mức án nhẹ hơn đề nghị của cơ quan công tố.
Bà Liễu tiếp tục đề nghị cho con trai được giám định tâm thần vì cho rằng Nam bị rối loạn lưỡng cực nặng. Bị cáo cũng xin được hưởng án treo để chăm sóc hai mẹ già hơn 90 tuổi và lo cho con trai phải chấp hành bản án dài. Trước đó, VKS đề nghị mỗi người mức án 6-7 năm tù về tội Rửa tiền.
Pháp luật quy định thế nào về kết hôn khi chấp hành án?
Đề nghị được kết hôn trong tù của Mr Pips đặt ra câu hỏi về quyền kết hôn của người đang bị tạm giam, chấp hành án phạt tù cũng như những giới hạn pháp lý đối với quyền nhân thân này.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS.luật sư Đặng Văn Cường - Trưởng Văn phòng luật sư Chính Pháp cho biết, hình phạt tù là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm.
Người chấp hành án phải tuân thủ chế độ, nội quy cơ sở giam giữ, bị hạn chế quyền tự do đi lại, lựa chọn nơi cư trú, hoạt động nghề nghiệp, giao tiếp và nhiều quyền khác theo quy định pháp luật. Những sinh hoạt bình thường như gặp gỡ bạn bè, chăm sóc người thân, đi lại hay tự quyết định cuộc sống đều không còn được thực hiện theo ý muốn cá nhân.

TS.Luật sư Đặng Văn Cường.
Đặc biệt, với người đối diện án tù chung thân, sự mất mát về tự do càng lớn. Những mong muốn bình dị như được sống bên cha mẹ, lập gia đình, chăm sóc con cái hay xây dựng một cuộc sống ổn định có thể trở nên xa vời.
Về phương diện pháp lý, luật sư Cường cho biết pháp luật Việt Nam không quy định cấm tuyệt đối người đang bị tạm giam hoặc chấp hành án phạt tù kết hôn. Họ vẫn có những quyền nhân thân cơ bản, trừ những quyền bị hạn chế theo quy định.
Cụ thể, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện kết hôn gồm: nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do hai bên tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo luật định.
Điều 9 của luật này quy định việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu không đăng ký theo quy định thì việc kết hôn không có giá trị pháp lý.
Như vậy, việc một người đang bị tạm giam hoặc chấp hành án phạt tù không đương nhiên làm mất quyền kết hôn.
Tuy nhiên, người đó vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, đặc biệt là sự tự nguyện thực sự của cả hai bên, không có sự lừa dối, cưỡng ép hoặc lợi dụng hôn nhân nhằm mục đích trái pháp luật.
Về thủ tục, việc đăng ký kết hôn được thực hiện theo Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn trong nước là UBND cấp xã. Pháp luật hiện chưa thiết kế một thủ tục đăng ký kết hôn riêng, tự động áp dụng đối với người đang bị giam giữ.
Vì vậy, nếu phát sinh trường hợp đăng ký kết hôn tại cơ sở giam giữ, cơ quan hộ tịch và cơ sở giam giữ cần phối hợp giải quyết, bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, điều kiện và yêu cầu an ninh, an toàn.
Luật sư Cường cũng lưu ý cần phân biệt người bị tạm giam với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù. Người bị tạm giam đang chịu biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, chưa thể mặc nhiên coi là người đã có tội. Trong khi đó, phạm nhân là người đã bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật và đang phải thi hành hình phạt.
Đối với phạm nhân, Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định về quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án, trong đó có việc bảo đảm các quyền hợp pháp, quyền gặp gỡ, liên lạc với thân nhân và thực hiện giao dịch dân sự theo quy định. Đối với người bị tạm giam, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 cũng quy định các quyền, nghĩa vụ tương ứng.
Tuy nhiên, luật sư nhấn mạnh, quyền kết hôn không đồng nghĩa với quyền được tổ chức đời sống vợ chồng bình thường ngay trong cơ sở giam giữ. Việc đăng ký kết hôn và việc chung sống, thực hiện quyền, nghĩa vụ vợ chồng là hai vấn đề khác nhau.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ công việc gia đình và có nghĩa vụ sống chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc lý do chính đáng.
Trong khi đó, người đang chấp hành án tù phải tuân thủ chế độ giam giữ, không thể trực tiếp chăm sóc, chia sẻ công việc hay tham gia đầy đủ các quyết định quan trọng trong gia đình. Người vợ hoặc chồng ở bên ngoài có thể phải một mình chăm sóc con cái, duy trì kinh tế, phụng dưỡng cha mẹ và đối diện với nhiều áp lực tinh thần.
Luật sư Cường nhấn mạnh, nếu người chấp hành án tù chung thân kết hôn và sinh con, cần nhìn nhận thận trọng những hệ lụy có thể phát sinh. Đứa trẻ có thể lớn lên trong hoàn cảnh thiếu vắng sự chăm sóc trực tiếp của cha hoặc mẹ trong nhiều năm; người còn lại phải gánh vác phần lớn trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và bảo đảm kinh tế.
Đây là những vấn đề cần cân nhắc, không phải để phủ nhận quyền kết hôn của phạm nhân mà nhằm bảo đảm quyết định hôn nhân được đưa ra trên cơ sở nhận thức đầy đủ về trách nhiệm và những hệ quả lâu dài.
Luật sư cho rằng cũng cần tránh cách nhìn cực đoan rằng người phạm tội thì không còn quyền được yêu thương, không được kết hôn hoặc không xứng đáng có một gia đình. Hình phạt tù nhằm trừng trị, giáo dục người phạm tội, chứ không phải tước bỏ toàn bộ phẩm giá và những quyền nhân thân hợp pháp của họ.
Từ góc độ chính sách pháp luật, vấn đề này cần được nghiên cứu thận trọng, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền nhân thân của người bị giam giữ với mục đích, yêu cầu của hình phạt tù.
Một mặt, Nhà nước cần tôn trọng quyền kết hôn hợp pháp của công dân, không thể chỉ vì một người đang chấp hành án mà mặc nhiên tước bỏ quyền này nếu pháp luật không quy định hạn chế.
Mặt khác, cần bảo đảm việc kết hôn không bị lợi dụng để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, che giấu tài sản, thực hiện giao dịch bất hợp pháp hoặc tạo lập quan hệ giả tạo nhằm đạt lợi ích không chính đáng.
Việc đăng ký kết hôn trong hoàn cảnh đặc biệt cần có cơ chế phối hợp giữa cơ quan hộ tịch và cơ sở giam giữ, bảo đảm xác minh nhân thân, tình trạng hôn nhân, ý chí tự nguyện của hai bên. Người ở ngoài xã hội cũng cần được cung cấp đầy đủ thông tin về hoàn cảnh và thời gian chấp hành án của đối phương để đưa ra quyết định, tránh bị lừa dối hoặc lợi dụng.
Theo luật sư Cường, việc hoàn thiện chính sách cần hướng tới hai mục tiêu: Bảo đảm quyền con người, quyền nhân thân hợp pháp của phạm nhân, tạo điều kiện duy trì những mối quan hệ gia đình lành mạnh; đồng thời bảo đảm hiệu lực của hình phạt tù, an ninh, trật tự tại cơ sở giam giữ và ý nghĩa giáo dục, cải tạo.
Những mối quan hệ tình cảm chân thành, sự động viên của gia đình có thể trở thành động lực giúp phạm nhân cải tạo tốt hơn. Tuy nhiên, tình yêu và hôn nhân phải xuất phát từ sự tự nguyện, trách nhiệm và nhận thức đầy đủ của cả hai bên, không nên là lựa chọn cảm tính trước áp lực của hình phạt.